9/7/16

Trợt xước giác mạc - Rách trợt biểu mô giác mạc

Rách trợt biểu mô giác mạc

I.Triệu chứng:
1.Triệu chứng lâm sàng
- Đau,
- sợ ánh sáng,
- cảm giác xốn, chảy nước mắt,
- tiền sử bị va quệt vào mắt.

2.Dấu hiệu điển hình
- Tổn thương biểu mô nhuộm màu Fluorescein.

3.Dấu hiệu khác
- Cương tụ kết mạc, phù mi,
- Phản ứng tiền phòng.

II.Khám: Trợt xước giác mạc
+ Đèn khe + sử dụng Fluo, đo kích thước vùng trợt, sơ đồ vị trí của nó và đánh giá phản ứng tiền phòng.

+ Lật mí mắt kiểm tra chắc chắn không có dị vật.

III.Điều trị:
A.Với người không đeo contactlens (kính tiếp xúc)
- Giãn đồng tử bằng Atropin 1%.
- Mỡ kháng sinh.
- Băng ép trong 24h (Băng ép không áp dụng đối với vết trợt nhiễm trùng).

a.Khi có vết trợt nhỏ, không ở trung tâm:
- Bỏ băng sau 24 giờ.
- Nhỏ kháng sinh 4 lần/ngày × 4ngày.

b.Khi có vết trợt rộng và ở trung tâm
- Tái khám ngày thứ 5 xem liệu biểu mô có tái tạo lại nhiều chưa.
- Nếu vết trợt lành hoặc chưa viêm giác mạc nông còn lại điều trị nhỏ kháng sinh kéo dài thêm 4 ngày nữa.
- Nếu vết trợt rộng hoặc vùng trung tâm còn bắt màu, tiếp tục dùng thuốc giãn đồng tử, mỡ kháng sinh, băng ép và tái khám trong những ngày tiếp theo.

B.Với người đeo contactlens
- Giãn đồng tử.
- Kháng sinh nhỏ mắt  4-6 lần/ngày.
- Không băng mắt.
- Theo dõi sau 24 giờ.

* Yêu cầu bệnh nhân tái khám hằng ngày cho tới khi lành vết thương, nhỏ thuốc thêm 2 ngày nữa.
Bệnh nhân có thể đeo contactlents sau khi mắt có cảm giác lành hoàn toàn sau 3-4 ngày.
Nếu giác mạc có thẩm lậu, nhu mô bị tổ thương cần tiến hành nuôi cấy vi khuẩn, làm kháng sinh đồ và điều trị tích cực.

8/21/16

Bệnh Viêm xương chũm - Biến chứng của viêm xương chũm

Bệnh Viêm xương chũm - Biến chứng của viêm tai xương chũm

1. Viêm xương chũm cấp tính (Acute  Mastoiditis).
Bao gồm:
- Viêm xương chũm cấp tính không xuất ngoại: viêm tai giữa cấp tính đã 1 vài tuần, triệu chứng toàn thân và cơ năng vẫn còn: sốt kéo dài,  vẫn chảy tai, đau vùng chũm, ấn vào rất đau. Trên phim X quang Schuller: mờ tế bào xương chũm.
- Viêm xương chũm cấp tính xuất ngoại: sưng sau tai, vùng xương chũm làm vểnh tai ra phía trước và xuống dưới. Sưng trên tai lan ra vùng thái dương, có thể làm khít hàm hoặc phù nề mi mắt. Sưng ở vùng mỏm chũm lan ra phần trên cổ...
- Viêm xương chũm tiềm ẩn: viêm tai giữa cấp tính tái phát nhiều lần, mặc dù đã nạo V.A trẻ vẫn ốm vặt, không lên cân... không có lý do nào khác, khám tai: màng nhĩ dày đục, không trở lại bình thường. ở trẻ em có trường hợp biểu hiện bằng trạng thái nhiễm độc thần kinh.

1.1. Viêm xương chũm cấp tính không xuất ngoại.
1.1.1. Nguyên nhân.
- Do viêm tai giữa không được điều trị tốt.
- Biến chứng của viêm tai giữa cấp tính (các trường hợp viêm tai giữa hoại tử và ở hài nhi sức đề kháng yếu).
- Biến chứng của viêm tai giữa mạn tính.
- Viêm tai giữa sau các bệnh: cúm, sởi, bạch hầu và ho gà.
Điều kiện thuận lợi:
- Những cơ thể có sức đề kháng yếu.
- Độc tố vi khuẩn.
- Xương chũm là loại thông bào.
1.1.2. Giải phẫu bệnh lý.
- Phù nề niêm mạc và màng xương, các nhóm tế bào khí của xương chũm bị phá huỷ, toàn bộ các vách ngăn tế bào khí bị phá huỷ và thông với nhau tạo thành một túi mủ lớn trong chứa đầy tổ chức hạt viêm và xương hoại tử. Sự phá huỷ này có thể vượt qua giới hạn xương chũm phá vào thành trong xương của tĩnh mạch bên.
- gây viêm tắc tĩnh mạch bên, nhiễm trùng huyết.
- vào phần tiểu não gây áp xe tiểu não.
- Qua trần hang chũm vào đại não gây nên áp xe não và viêm màng não.
- Có thể phá huỷ thành ống tai xương gây xuất ngoại vào ống tai.
- Vào mê nhĩ gây viêm mê nhĩ và viêm xương đá.
1.1.3. Triệu chứng.
Triệu chứng toàn thân:
- Sốt cao kéo dài, thể trạng suy nhược, mệt mỏi, nhiễm trùng, nhiễm độc sốt cao 390C- 400c (viêm tai giữa chảy mủ qua 2 tuần không thấy khỏi các triệu chứng thậm chí còn có diễn biến nghiêm trọng hơn như sốt cao hơn, đau tai hơn, mủ chảy đặc hơn và có mùi thối).
- ở hài nhi có thể thấy co giật, thóp phồng giống như viêm màng não.

Triệu chứng cơ năng:
- Đau tai: là triệu chứng chính, đau tăng dữ dội, đau sâu trong tai lan ra vùng chũm và vùng thái dương.
- Nghe kém kiểu dẫn truyền.
- ù tai.
- Chóng mặt nhẹ.
Triệu chứng thực thể:
- Mặt chũm thường nề đỏ, ấn vào đau.
- Mủ tai: đặc có mùi thối khẳn, có mầu xanh hoặc vàng đôi khi có tia máu.
- Màng nhĩ: (quan sát được sau khi lau sạch  mủ tai) nề đỏ, lỗ thủng thường sát thành ống tai xương, bờ nham nhở, đáy lỗ thủng phù nề xung huyết, góc sau trên đôi khi bị xoá.
X-quang: Tư thế Schuller: các vách thông bào của các nhóm thông bào dầy, bị mờ do sự phá huỷ các nhóm tế bào xương chũm, có những đám bị mất vách biến thành các hốc rộng.
1.1.4. Tiến triển và biến chứng: Viêm xương chũm cấp tính khó có thể tự khỏi, nếu không được điều trị sẽ đưa tới viêm xương chũm mạn tính, viêm xương chũm xuất ngoại và có thể đưa tới các biến chứng hiểm nghèo.
Các biến chứng thường gặp là:
- Viêm xương hay cốt tuỷ viêm xương thái dương, xương đá hay xương chẩm với hội chứng nhiễm khuẩn nặng.
- Liệt mặt ngoại biên do tổn thương dây thần kinh số VII.
- Viêm mê nhĩ.
- Các biến chứng nội sọ như: viêm màng não, áp xe não hay viêm tĩnh mạch bên.
1.1.5. Điều trị.
- Mổ cấp cứu là phương pháp duy nhất.
- Kháng sinh liều cao toàn thân bằng đường tiêm truyền chỉ làm giảm triệu chứng.
1.1.6. Phòng bệnh.
- Điều trị tích cực các nguyên nhân gây viêm tai giữa: điều trị viêm mũi họng, nạo V.A.
- Điều trị tích cực viêm tai giữa mạn tính.
- Theo dõi và phát hiện sớm các biến chứng.

8/20/16

Bệnh Viêm Tai Giữa

Bệnh Viêm tai giữa - Điều trị bệnh viêm tai giữa

1. Giải phẫu và sinh lý tai.
1.1. Giải phẫu tai.
Tai gồm 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong.
Tai ngoài: vành tai và ống tai ngoài              
Tai giữa:  hòm tai, vòi nhĩ và các xoang chũm.
cấu tạo của hòm nhĩ.
Hòm nhĩ giống như một hình trống dẹt. Bộ phận chủ yếu trong hòm nhĩ là tiểu cốt. Hòm nhĩ được chia thành hai tầng. Tầng trên gọi là tầng thượng nhĩ chứa tiểu cốt, tầng dưới gọi là trung nhĩ (antrium) là một hốc rỗng chứa không khí, thông trực tiếp với vòi nhĩ.
Hòm nhĩ có sáu thành:
Thành ngoài: Phía trên là tầng thượng nhĩ, phần dưới là màng nhĩ hình bầu dục.
Thành trong: Có đoạn nằm ngang của ống falope, phần trên là thành trong của thượng nhĩ có gờ ống bán khuyên ngoài, nằm ngay trên ống falope. ở một số trường hợp dây thần kinh VII không có ống xương che phủ do đó viêm tai giữ dễ bị liệt mặt, phần dưới là thành trong của hòm nhĩ. ở mặt này có hai cửa sổ: cửa sổ bầu dục ở phía trên và sau, cửa sổ tròn ở phía sau và dưới.
Thành sau: Phần trên của thành sau là ống thông hang, nối liền hang chũm với hòm nhĩ, phần dưới thành sau là tường dây VII ngăn cách hòm nhĩ với xương chũm.
Thành trước: Thông với lỗ vòi nhĩ (Eustachi), ở trẻ em lỗ vòi luôn mở thông với vòm mũi họng. Với đặc điểm cấu tạo vòi nhĩ nằm ngang, khá rộng và thẳng, viêm nhiễm vùng mũi họng dễ xâm nhập vào tai giữa.
Thành trên: Hay là trần nhĩ ngăn cách hòm nhĩ với hố não giữa. ở trẻ em đờng khớp trai đá bị hở nên viêm tai giữa dễ bị viêm màng não.
Thành dưới: Vịnh tĩnh mạch cảnh.
Tai trong: Nằm trong xương đá, đi từ hòm tai tới lỗ ống tai trong.
Gồm 2 phần là mê nhĩ xương bao bọc bên ngoài và mê nhĩ màng ở trong.
Mê nhĩ xương: gồm tiền đình và loa đạo (ốc tai).
- Tiền đình thông với tai giữa bởi cửa sổ bầu dục ở phía trớc, có ống bán khuyên nằm theo ba bình diện không gian.
- Loa đạo giống nh hình con ốc có hai vòng xoắn rỡi, đợc chia thành hai vịn: là vịn tiền đình thông với tiền đình và vịn nhĩ thông với hòm tai bởi cửa sổ tròn, nó đựoc bịt kín bởi màng nhĩ phụ Scarpa.
Mê nhĩ màng: gồm hai túi là cầu nang và soan nang, ống nội dịch và 3 ống bán khuyên màng.
Trong cầu nang và soan nang có các bãi thạch nhĩ là vùng cảm giác thăng bằng. Trong ống bán khuyên có mào bán khuyên là vùng chuyển nhận các kích thích chuyển động.
Loa đạo màng: nằm trong vịn tiền đình có cơ quan Corti chứa đựng các tế bào lông và các tế bào đệm, tế bào nâng đỡ.
Giữa mê nhĩ xương và mê nhĩ màng có ngoại dịch, trong mê nhĩ màng có nội dịch.
Thần kinh.
Các sợi thần kinh xuất phát từ tế bào lông của cơ quan Corti tập hợp thành bó thần kinh loa đạo (ốc tai). Các sợi thần kinh xuất phát từ các mào bán khuyên và bãi thạch nhĩ tập hợp thành bó thần kinh tiền đình. Hai bó này tập hợp thành dây thần kinh số VIII chạy trong ống tai trong để vào não.
1.2. Sinh lý tai.
Tai có hai chức năng nghe và thăng bằng.
1.2.1.Chức năng nghe.
Sinh lý truyền âm
- Tai ngoài: Vành tai thu và định hớng sóng âm, ống tai truyền sóng âm tới màng tai.
- Tai giữa: Dẫn truyền và khuyếch đại cường độ âm thanh (vòi nhĩ, màng nhĩ, chuỗi xương con).
Sinh lý tiếp âm
- Điện thế liên tục: Do có sự khác biệt về thành phần của Na+ và K+ trong nội và ngoại dịch.
- Điện thế hoạt động: do sự di chuyển của nội dịch, sự rung động của các tế bào lông.
- Luồng thần kinh: Luồng thần kinh tập hợp các điện thế chuyển theo dây VIII  lên vỏ não.
2.2.2.Chức năng thăng bằng.
Thăng bằng vận động.
Do các ống bán khuyên, khi thay đổi tư thế đầu làm nội dịch nằm trong ống bán khuyên di chuyển gây kích thích tế bào thần kinh ở mào bán khuyên tạo nên luồng thần kinh.
Thăng bằng tĩnh tại.
Tuỳ theo tư thế bất động (khi nằm hoặc ngồi...), các hạt thạch nhĩ đè lên tế bào thần kinh ở bãi thạch nhĩ tạo lên luồng thần kinh. Các luồng thần kinh được thần kinh tiền đình đưa đến các trung tâm ở não tạo nên các phản xạ điều chỉnh thăng bằng của cơ thể.

8/18/16

Bệnh Viêm Xoang

Bệnh Viêm Xoang - Điều trị bệnh viêm xoang - Biến chứng bệnh viêm xoang

1. Giải phẫu và sinh lý mũi, xoang.
1.1. Giải phẫu.
Cấu tạo giải phẫu:
Xoang là những những hốc nằm trong xương sọ và được mang tên cùng với tên của xương đó ví dụ như: xoang trán nằm trong xương trán, xoang hàm nằm trong xương hàm trên. Trong lòng xoang được lót bởi niêm mạc hô hấp, các chất xuất tiết của xoang đều đổ vào hốc mũi qua các lỗ nhỏ (các lỗ thông mũi-xoang). Các xoang đều có lỗ thông nối với nhau nên khi bị viêm 1 xoang kéo dài dễ đưa đến các xoang khác gọi là viêm đa xoang.
Các xoang mặt được chia thành 2 nhóm:
- Nhóm xoang trước: xoang hàm, xoang sàng trước, xoang trán vây quanh hốc mắt. Nhóm xoang này đều đổ ra ngách mũi giữa, nên các xuất tiết đều đổ ra mũi trước, là vùng hô hấp của hốc mũi. Vùng này mở thông ra ngoài, dễ bị nhiễm khuẩn và dễ gây ra biến chứng mắt. Khi mới đẻ xoang sàng đã thông bào, xoang hàm còn nhỏ, xoang trán thì khoảng 4-7 tuổi mới bắt đầu phát triển. Xoang trước có lỗ thông với hốc mũi rộng, lại liên quan nhiều đến các răng hàm trên nên các xoang trước thường bị viêm cấp tính thể nhiễm khuẩn, mủ và các triệu chứng biểu hiện ở phía trước (như đau ở mặt, chảy mủ ra ở cửa mũi trước, xì mũi ra mủ...).
- Nhóm xoang sau: xoang sàng sau và xoang bướm ở sâu dưới nền sọ, liên quan tới phần sau ổ mắt, dây thần kinh thị giác, xoang tĩnh mạch hang, tuyến yên. Xoang sàng sau đổ ra ngách mũi trên, xoang bướm đổ ra vùng khứu giác của hố mũi. Vùng này kín hơn, ít bị xâm nhập bởi nhưng nguyên nhân bệnh lý bên ngoài. Do xoang sau có lỗ thông với mũi ở phía sau khe mũi trên nên xuất tiết thường chảy xuống họng và ít bị viêm cấp tính mà thường bị viêm mạn tính.
Các xoang sau hay bị cương tụ và phù nề niêm mạc hơn là viêm mủ, các triệu chứng viêm xoang sau phần nhiều biểu hiện ra phía sau (như đau đầu vùng chẩm, nước mũi hoặc chất nhầy chảy ra cửa mũi sau, bệnh nhân khịt mũi chứ không xì mũi v...).
Các xoang nói chung thường hay viêm là do nguyên nhân viêm mũi, viêm họng.
Mạch máu: những động mạch của hốc mũi xuất phát từ 2 nguồn mạch máu chính sau đây:
- Động mạch cảnh ngoài: động mạch bướm khẩu cái là nhánh của động mạch hàm trong. Động mạch khẩu cái lên là nhánh của động mạch mặt.
- Động mạch cảnh trong: động mạch sàng trước và động mạch sàng sau là nhánh của động mạch mắt.
Các nhánh của các mạch này tập trung ở vùng trước của vách ngăn mũi tạo thành điểm mạch (gọi là điểm mạch Kisselbach), nơi thường xảy ra chảy máu mũi.
Thần kinh:
- Thần kinh khứu giác.
- Thần kinh cảm giác do dây V chi phối.
- Thần kinh thực vật do hạch bướm khẩu cái chi phối.

1.2. Sinh lý: Sinh lý của xoang dựa vào 2 điểm chính:
- Lưu thông không khí.
- Dẫn lưu dịch.
Vai trò của lông chuyển niêm mạc xoang và các lỗ tự nhiên của các xoang đổ vào các ngách giữa, ngách trên bảo đảm 2 chức năng này. Nếu các lỗ bị tắc, lông chuyển bị huỷ hoại, tình trạng bệnh lý sẽ phát sinh ở các xoang.

8/17/16

Bệnh Viêm Thanh Quản

Bệnh Viêm thanh quản - điều trị Viêm thanh quản - phòng bệnh Viêm thanh quản

1. Giải phẫu và sinh lý thanh quản.
1.1. Giải phẫu thanh quản.
Thanh quản là cơ quan phát âm và thở, nằm ở trước thanh hầu, từ đốt sống C3 đến C6, nối hầu với khí quản vì vậy nó thông ở trên với hầu, ở dưới với khí quản.
Thanh quản di động ngay dưới da ở vùng cổ trước khi nuốt hoặc khi cúi xuống hoặc ngẩng lên. Nó phát triển cùng với sự phát triển của bộ máy sinh dục, nên khi trưởng thành thì giọng nói cũng thay đổi (vỡ giọng), ở nam giới phát triển mạnh hơn vì vậy giọng nói của nam, nữ khác nhau, nam trầm đục, nữ trong cao.
Kích thước thanh quản:
                                    
Chiều dài           Nam   44 mm           Nữ  36 mm
Đường kính ngang      Nam  43 mm       Nữ      41 mm
Đường kính trước sau    Nam36 mm          Nữ   26 mm

 
Cấu tạo giải phẫu: thanh quản được cấu tạo bởi các tổ chức sụn, sợi và cơ.
Các cơ thanh quản:
-    Nhóm cơ làm hẹp thanh môn: cơ nhẫn phễu bên, cơ giáp phễu, cơ phễu chéo và ngang, cơ phễu nắp thanh hầu.
-    Nhóm cơ làm rộng thanh môn: cơ nhẫn phễu sau, cơ giáp nắp thanh hầu.
-    Nhóm cơ làm căng và chùng dây thanh âm: cơ nhẫn giáp, cơ thanh âm.
ổ thanh quản: được niêm mạc phủ, chia làm 3 tầng: tiền đình thanh quản, thanh môn, tầng dưới thanh môn.
Mạch máu và thần kinh.
Động mạch: các động mạch thanh quản trên và dưới là ngành của động mạch giáp trạng trên và giáp trạng dưới. Nhìn chung, cuống mạch thần kinh của tuyến giáp trạng cũng là cuống mạch thần kinh của thanh quản.
Tĩnh mạch: đi theo động mạch đổ về tĩnh mạch giáp lưỡi và tĩnh mạch dưới đòn.
Thần kinh: do hai dây thần kinh thanh quản trên và dưới, tách từ dây thần kinh X.
-    Dây thanh quản trên: cảm giác cho thanh quản ở phía trên nếp thanh âm và vận động cơ nhẫn giáp.
-    Dây thanh quản dưới: hay dây quặt ngược vận động cho hầu hết các cơ của thanh quản và cảm giác từ nếp thanh âm trở xuống.
-    Thần kinh giao cảm của thanh quản tách ở hạch giao cảm cổ giữa và cổ trên.
1.2. Sinh lý thanh quản.
1.2.1. Phát âm.
-    Lời nói phát ra do luồng không khí thở ra từ phổi tác động lên các nếp thanh âm.
-    Sự căng và vị trí của nếp thanh âm ảnh hưởng đến tần số âm thanh.
-    Âm thanh thay đổi là do sự cộng hưởng của các xoang mũi, hốc mũi, miệng, hầu và sự trợ giúp của môi, lưỡi, cơ màn hầu.
1.2.2. Ho là phản xạ hô hấp trong đó thanh môn đang đóng bất thình lình mở ra, dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi.
1.2.3. Nấc là một phản xạ hít vào, trong đó 1 đoạn ngắt âm kiểu hít vào được phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành, thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.


8/16/16

Bệnh Viêm Mũi

Bệnh Viêm Mũi  - Triệu chứng bệnh viêm Mũi  - Điều trị viêm Mũi  - Phòng bệnh viêm Mũi

1. Giải phẫu và sinh lý mũi.
1.1. Giải phẫu mũi: Gồm có tháp mũi và hốc mũi. 
Tháp mũi: như một mái che kín hốc mũi, có khung là xương chính mũi, ngành lên xương hàm trên, sụn cánh mũi và sụn uốn quanh lỗ mũi.
hốc mũi: vách ngăn chia hốc mũi thành hốc mũi phải và hốc mũi trái, là hai khoảng thông từ trước ra sau. Phía trước có hai lỗ mũi, phía sau có hai cửa mũi sau.
Mỗi hốc mũi có 4 thành:
-    Thành trên: là trần của hốc mũi, ngăn cách hốc mũi với sọ não.
-    Thành dưới: là sàn mũi, ngăn cách mũi với miệng.
-    Thành trong: hay là vách ngăn mũi là một vách thẳng đi từ trần mũi xuống sàn mũi và chạy dọc từ trước ra sau ngăn mũi thành hai hốc mũi phải và trái. Các mạch máu của vách ngăn mũi đều chạy tới tập trung ở vùng trước dưới của niêm mạc vách ngăn mũi, tạo thành một vùng có nhiều mạch máu gọi là điểm mạch, nơi thường xảy ra chảy máu mũi.
-    Thành ngoài: là thành quan trọng hơn cả. Thành ngoài có 3 xương uốn cong còn gọi xương xoăn theo thứ tự trên, giữa, dưới. Ba xương xoăn được mang tên: xương xoăn trên, xương xoăn giữa và xương xoăn dưới.
    Mỗi một xương xoăn hợp với thành ngoài của hốc mũi tạo thành một khe mũi hay là ngách mũi.Tên của ngách mũi được gọi theo tên của xương xoăn tương ứng là: ngách mũi trên, ngách mũi giữa và ngách mũi dưới.
Ngách mũi dưới ở đầu có lỗ thông của ống lệ tỵ, ống này từ túi lệ xuống.
ngách mũi giữa là nơi thông ra hốc mũi của các xoang hàm, sàng trước và xoang trán.
ngách mũi trên là nơi thông ra hốc mũi của các xoang sàng sau, còn xoang bướm có lỗ thông trực tiếp ra phần trên và sau của hốc mũi.
Loa vòi ở cách đuôi xương xoăn giữa hơn 1cm vào phía sau và hơi chếch xuống dưới. Sau đuôi xương xoăn trên có lỗ bướm khẩu cái, ở đó thoát ra động mạch bướm khẩu cái và dây thần kinh bướm khẩu cái (nhánh mũi).
Từ lưng xương xoăn giữa trở lên niêm mạc mũi chứa những tế bào khứu giác.
1.2. Sinh lý mũi. 
Mũi có chức năng: hô hấp, phát âm và ngửi. Không khí được sưởi ấm, làm ẩm và lọc sạch trước khi vào phổi.
Hô hấp: là chức năng chính, thành bên của hốc mũi giữ vai trò cơ bản trong trong sinh lý thở vào. Mũi làm ấm, ẩm và làm sạch không khí thực hiện được là nhờ niêm mạc mũi, có hệ thống niêm mạc biểu mô trụ đơn có lông chuyển với các tế bào tiết, với cấu trúc rất giàu mạch máu. Lớp nhầy này bắt giữ các vật lạ để lớp tế bào lông chuyển ra phía sau mũi với nhịp độ từ 400 đến 800 nhịp/1 phút. Hệ thống màng nhầy này hoạt động rất hiệu quả, nó bảo vệ lớp biếu mô của mũi tuy nhiên cũng dễ bị ảnh hưởng do viêm nhiễm, độ ẩm, hoá học, bụi, vi sinh, vi khuẩn, nấm mốc...
Hệ thống tế bào ở hạ niêm mạc, sản sinh ra các thực bào và dịch thể niễn dịch như các loại IgG, IgA, IgM...
Ngửi: được thực hiện bởi niêm mạc ngửi nằm ở phần cao của hốc mũi, với các tế bào thần kính cảm giác và đầu tận của thần kinh khứu giác, trên diện tích 2-3cm còn gọi là điểm vàng. Để ngửi được không khí phải đến được vùng ngửi. Các chất có mùi phải được hoà tan trong lớp màng nhầy trên tế bào cảm giác thì mới tạo được kích thích tới dây thần kinh khứu giác.
Phát âm: mũi cấu thành một số âm gọi là âm mũi.

8/15/16

Bệnh Viêm V.A

Bệnh Viêm V.A - Điều trị bệnh viêm VA - Phòng bệnh viêm VA

Trong họng có nhiều tổ chức lympho rải rác khắp niêm mạc hoặc tập trung thành từng khối ở mặt trước của họng gọi là vòng Waldeyer trong đó có: Amiđan vòi (amygdale de gerlach) và Amiđan vòm họng (amygdale de luschka).
Khi tổ chức này viêm và quá phát thành khối gọi là sùi vòm họng V.A (Végétations Adenoides), gây cản trở đến việc hít thở không khí.
Bình thường khối V.A phát triển đến 6-7 tuổi thì teo hết, cá biệt có thể thấy ở người trưởng thành.
Tỷ lệ viêm V.A ở nước ta khoảng 30% trẻ em, lứa tuổi nhiều nhất là 2-5 tuổi.

1. Viêm V.A cấp tính.
    Là viêm nhiễm cấp tính, xuất tiết hoặc có mủ ở Amiđan de Lushka ngay từ nhỏ, cũng có thể gặp ở trẻ lớn và người lớn (nhưng rất hiếm).
1.1. Nguyên nhân.
-    Virus: Adenovirus, Myxovirus, Rhinovirus...
-    Vi khuẩn: Tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn tan huyết bêta nhóm A, Haemophilus Influenzae...
1.2. Triệu chứng.
1.2.1.Triệu chứng toàn thân: ở hài nhi, bắt đầu đột ngột, sốt cao 400-410C, thường kèm theo những hiện tượng phản ứng dữ dội như: co thắt thanh môn, co giật. ở trẻ lớn hơn cũng có thể bắt đầu đột ngột sốt cao, kèm theo thanh quản co thắt, đau tai và có khi có phản ứng màng não nhưng diễn biến nhẹ hơn ở hài nhi.
1.2.2.Triệu chứng cơ năng: Trẻ tắc mũi, hài nhi có thể tắc mũi hoàn toàn phải thở bằng miệng, thở nhanh, nhịp không đều, bỏ ăn, bỏ bú. Trẻ lớn hơn không bị tắc mũi hoàn toàn nhưng thở ngáy, nhất là về đêm, tiếng nói có giọng mũi kín. ở người lớn nếu có còn bị viêm họng sau lưỡi gà, ù tai, nghe kém.
1.2.3.Triệu chứng thực thể: Hốc mũi đầy mủ nhầy, không thể hoặc khó khám vòm họng qua mũi trước. ở trẻ lớn, sau khi hút sạch mũi nhầy trong hốc mũi đặt thuốc làm co niêm mạc mũi có thể nhìn thấy tổ chức V.A ở nóc vòm phủ bởi lớp mũi nhầy. Khám họng thấy niêm mạc đỏ, một lớp nhầy trắng, vàng phủ trên niêm mạc thành sau họng từ trên vòm chảy xuống.
    Khám tai: màng nhĩ mất bóng, trở nên xám đục, hơi lõm vào do tắc vòi nhĩ, triệu chứng rất có giá trị để chẩn đoán V.A.
Có thể sờ thấy hạch nhỏ ở góc hàm, rãnh cảnh, có khi cả ở sau cơ ức đòn chũm, hơi đau, không có hiện tượng viêm quanh hạch.
Soi cửa mũi sau gián tiếp bằng gương nhỏ ở trẻ lớn và người lớn sẽ thấy được tổ chức V.A ở vòm mũi họng sưng đỏ, to có mủ nhầy phủ lên trên.
Sờ vòm bằng ngón tay không nên thực hiện ở giai đoạn viêm cấp tính.

8/14/16

Bệnh Viêm Amiđan

Bệnh Viêm amiđan - Điều trị viêm amidan - Phòng bệnh viêm amidan
Ngã tư đường ăn, đường thở có một hệ thống tổ chức Lympho làm nhiệm vụ bảo vệ bao gồm vòng Waldeyer và hệ thống hạch cổ.
Vòng Waldeyer gồm có:
- Amiđan ở vùng vòm mũi họng (Amiđan Lushka).
- Amiđan vòi còn gọi là Amiđan Gerlach ở quanh vòi nhĩ.
- Amiđan khẩu cái thường gọi tắt là Amiđan có hình hạt hạnh nhân ở 2 bên thành họng, giữa trụ trước và trụ sau.
- Amiđan lưỡi nằm ở đáy lưới sau V lưỡi.
Amiđan lúc sinh ra đã có và là tổ chức bình thường của con người. Nó phát triển ở tuổi thiếu nhi và teo dần ở tuổi dậy thì.
1. Viêm Amiđan cấp tính.
Là viêm xung huyết và xuất tiết của Amiđan khẩu cái, thường gặp ở trẻ từ 3-4 tuổi trở lên, do vi khuẩn hoặc virus gây nên, thường thấy ở thời kỳ xâm lấn của nhiều bệnh viêm nhiễm vì vậy có người coi Amiđan là "cửa vào " của một số vi khuẩn hay virus như: viêm khớp cấp, bại liệt, dịch viêm não, viêm màng não…
1.1. Nguyên nhân.
Vi khuẩn: tụ cầu, liên cầu, xoắn khuẩn, các chủng ái khí và yếm khí.
Virus: cúm, sởi, ho gà...
1.2. Triệu chứng.
1.2.1. Triệu chứng toàn thân: Bắt đầu  đột ngột với cảm giác rét hoặc rét run rồi sốt 380-390c. Người mệt mỏi, đau đầu, chán ăn, nước tiểu ít và thẫm màu. Đại tiện thường táo.
1.2.2. Triệu chứng cơ năng: Cảm giác khô, rát, nóng ở trong họng, nhất là thành bên họng vị trí Amiđan, mấy giờ sau biến thành đau họng, đau nhói lên tai, đau tăng lên rõ rệt khi nuốt, khi ho.
Thường kèm theo viêm V.A, viêm mũi hoặc ở trẻ em có Amiđan to thở khò khè, đêm ngáy to, nói giọng mũi.
Viêm nhiễm có thể lan xuống thanh quản, khí quản gây nên ho từng cơn, đau và có đờm nhầy, giọng khàn nhẹ.
1.2.3. Triệu chứng thực thể: Lưỡi trắng, miệng khô, niêm mạc họng đỏ, Amiđan sưng to và đỏ, có khi gần sát nhau ở đường giữa, một số tổ chức lympho ở thành sau họng to và đỏ: đó là thể viêm Amiđan ban đỏ thường do virus gây nên.
Có khi thấy hai Amiđan sưng đỏ và có những chấm mủ trắng ở miệng các hốc, dần biến thành một lớp mủ phủ trên bề mặt Amiđan, không lan đến các trụ, không dính chắc vào Amiđan, dễ chùi sạch không chảy máu để lộ niêm mạc Amiđan đỏ và nguyên vẹn: đó là thể viêm Amiđan mủ do vi khuẩn gây nên (liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn).
1.2.4. Xét nghiệm: Thể viêm do vi khuẩn có Bạch cầu tăng cao, nhiều bạch cầu đa nhân (10 đến 12 nghìn bạch cầu).

1.3. Chẩn đoán phân biệt viêm Amiđan cấp tính với bệnh bạch hầu.



Bệnh Viêm Họng

Bệnh Viêm họng - điều trị bệnh viêm họng - phòng bệnh viêm họng

1. Giải phẫu và sinh lý họng.

1.1. Giải phẫu họng.

Cấu tạo của họng: họng là một ống cơ và màng ở trước cột sống cổ. Đi từ mỏm nền tới đốt sống cổ thứ IV, là ngã tư của đường ăn và đường thở, nối liền mũi ở phía trên, miệng ở phía trước với thanh quản và thực quản ở phía dưới. Giống như một cái phễu phần trên loe rộng, phần dưới thu hẹp. Thành họng được cấu trúc bởi lớp cân, cơ, niêm mạc.

Họng chia làm 3 phần:

-         Họng mũi (tỵ hầu) phần họng trên.

-         Họng miệng (khẩu hầu) phần họng giữa.

-         Họng thanh quản (thanh hầu) phần họng dưới.

Vòng waldeyer.

Họng có các tổ chức lympho tạo thành một vòng bao quanh gọi là vòng Waldeyer.

-         Bao gồm: Amiđan khẩu cái, Amiđan lưỡi, Amiđan vòm (luschka), Amiđan vòi (gerlach).

-         Mô học của Amiđan: Giống như cấu trúc của hạch bạch huyết.

-         Chức năng là sinh ra các kháng thể để bảo vệ cơ thể.

Khoang quanh họng.

          Quanh họng có các khoang chứa các tổ chức cân, cơ, mạch máu, thần kinh, hạch bạch huyết và các khoang này có liên quan mật thiết với họng.

-         Khoang bên họng (Sébileau). 

-         Khoang sau họng (henké).

Mạch máu: Mạch nuôi dưỡng thuộc ngành động mạch cảnh ngoài: động mạch hầu lên, động mạch giáp trạng trên, động mạch khẩu cái lên.

Thần kinh.

-         Thần kinh cảm giác thuộc dây IX, X. Dây IX chi phối nền lưỡi và 1/3 dưới Amiđan. Dây X chi phối thành sau họng và màn hầu.

-         Thần kinh vận động chủ yếu do nhánh trong của dây IX và dây XI.

Mạch bạch huyết: đổ vào các hạch sau họng: hạch Gillete, hạch dưới cơ nhị thân và hạch dãy cảnh.


1.2. Sinh lý của họng:

 họng là ngã tư đường ăn và đường thở. Nên giữ các chức năng sau:

-         Chức năng nuốt.

-         Chức năng thở.

-         Chức năng phát âm.

-         Chức năng nghe.

-         Chức năng vị giác (nếm).

-         Chức năng bảo vệ cơ thể.

6/16/16

Canxi nano giá bao nhiêu - Canxi nano có tốt không?

Canxi nano giá bao nhiêu, Canxi nano Tasuamum có tốt không?
 là câu hỏi được rất nhiều chị em " bầu bí" quan tâm
 sau một thời gian tìm hiểu thói quen sử dụng canxi trong thai kì của chị em mang thai và tham khảo giá canxi nano tại các quầy thuốc và trên các shop online thì mình có những nhận xét như sau:

canxi nano gia bao nhieu
Rất nhiều bạn quan tâm, tìm kiếm canxi nano gia bao nhieu
Mình đã tham khảo thị trường và thấy rằng: giá canxi nano như sau:
Hiện nay sản phẩm Canxi nano Tasuamum của công ty Dược Quốc Tế có giá:

** Bạn chỉ phải trả: 149.000 - 159.000 vnđ/1 lọ Canxinano Tasuamum
**Miễn phí ship hàng toàn quốc

Canxi đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển xương và răng của thai nhi.
Trong suốt thời gian thai kỳ, các bà bầu luôn cần bổ sung Canxi, nhất là đối với người Việt nam thì
thực sự rất cần, một phần là do thói quen ăn uống, khẩu phần ăn hàng ngày thường không đủ Canxi.
Bà bầu cần đảm bảo bổ sung Canxi trong các giai đoạn thai kỳ sao cho đảm bảo lượng như sau:

- Nhu cầu Canxi 3 tháng đầu khi mang thai (tháng 1, 2, 3): 800mg/ngày (các tuần: 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14)
- Canxi cần cho 3 tháng giữa thai kỳ (tháng thứ 4, 5, 6): 1000mg/ngày (tuần: 15, 16, 17, 18, 19,
20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28)
- Nhu cầu cho 3 tháng cuối thai kỳ (tháng 7, 8, 9): 1500mg/ngày (tuần: 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35,
36, 37, 38, 39, 40)

 Khi thiếu canxi thai nhi có thể:
- Chậm phát triển
- Bệnh còi xương bẩm sinh
- Chứng khò khè bẩm sinh
- Dị dạng xương
 Đối với mẹ bầu và sau sinh:
- Tê bì chân tay, khó ngủ, mệt mỏi.
- Khi cho con bú không đủ lượng canxi trong sữa trẻ sẽ suy yếu, đổ mồ hôi trộm, dễ sinh ra đau lưng, đau vai, đau khớp.
- Là một trong những nguyên nhân gây loãng xương
**Vậy làm thế nào để bổ sung canxi ĐÚNG và ĐỦ?
 Bổ sung canxi ngay trong bữa ăn hàng ngày bằng các thực phẩm giàu canxi như: cua đồng, tôm đồng, sữa bột, sữa bò, sữa dê tươi, sữa đậu nành, vừng...
Hiện nay, các nhà khoa học đã ứng dụng công nghệ nano để tạo ra canxi dạng nano, với kích thước hạt nano siêu nhỏ, tăng khả năng hấp thu lên mức tối đa. Bởi nhờ kích thước nano siêu nhỏ, canxi nano có thể thẩm thấu tốt vào mạch máu, giúp hệ thần kinh hoạt động ổn định bình thường (chấm dứt tình trạng trằn trọc, quấy khóc, khó ngủ…) và đi đến “tận nơi” những bộ phận cần bổ sung canxi (xương, răng)
 Bổ sung canxi bằng viên canxinano Tasuamum. Được nghiên cứu và kiểm duyệt chặt chẽ tại Viện nghiên cứu Y-Dược cổ truyền Tuệ Tĩnh. Thành phần Canxi Nano chế biến theo công nghệ siêu nano giúp tăng khả năng hấp thu canxi gấp 200 lần các loại canxi thông thường. Đặc biệt, hàm lượng Canxi Nano có trong sản phẩm lên đến 300mg, giúp phát triển tối ưu hệ xương và răng ở thai nhi. Canxi Nano còn giúp tăng cường khả năng hấp thu dưỡng chất, phòng và hỗ trợ điều trị các bệnh về đường tiêu hóa, cân bằng vi khuẩn đường ruột, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Ngoài ra bổ sung Acid Folic đặc biệt cần thiết cho phụ nữ mang thai, giúp thai nhi phát triển khỏe mạnh, tránh các biến cố bào thai hay dị tật bẩm sinh nguy hiểm cho thai nhi. Vitamin D3 giúp tăng cường và chuyển hóa canxi nuôi dưỡng xương, phòng và điều trị loãng xương. Nên lựa chọn canxi kết hợp vitamin D3 cùng các khoáng chất khác, có lợi cho quá trình hấp thu canxi và hoạt động của bộ máy tiêu hóa - Vitamin D3 là chất “dẫn truyền” canxi vào cơ thể. Vì vậy bổ sung loại canxi kết hợp vitamin D3 là tốt nhất
Một số điểm cần lưu ý:
Bà bầu nên uống Canxi vào lúc nào trong ngày, thời gian nào là tốt nhất?
Khi bà bầu uống Canxi cần lưu ý một số điểm quan trọng sau đây:
Thời điểm bà bầu nên uống Canxi phải được cách xa lúc uống sắt.
Uống Canxi sau bữa sáng hoặc bữa trưa khoảng 1 giờ đồng hồ.
Bổ sung Canxi vào buổi sáng là tốt nhất. Tuyệt đối không nên uống vào buổi tối, dễ hình thành
sỏi thận.
Có thể chia nhỏ thành nhiều lần.
Viên canxi nano Tasuamum giúp mẹ bổ sung đầy đủ canxi trong suốt quá trình của thai kì

Chúc Bạn và gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc!